Người chiến sỹ cảm tử và câu chuyện về 60 ngày đêm “Quyết tử để Tổ Quốc quyết sinh”

 Đại tá Nguyễn Trọng Hàm sinh ra và lớn lên ở phố Hàng Thiếc, Hà Nội. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1944, với nhiệm vụ tuyên truyền, rải truyền đơn chống thực dân Pháp giữa lòng Hà Nội. Khi toàn quốc kháng chiến, ông là Đại đội trưởng Đại đội tự vệ phố Hàng Thiếc, khu tự vệ Đông Thành, Liên khu I (sau này là Trung đội trưởng Trung đội 2, Tiểu đoàn 102, Trung đoàn Thủ đô). Trung đội 2 có 36 cán bộ, chiến sĩ có nhiệm vụ giữ chân địch một thời gian dài, bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

 

Đại tá Nguyễn Trọng Hàm với hồi ức về Hà Nội 60 ngày đêm “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”

 

Đại tá Hàm cho biết, chiến khu Hà Nội (Chiến khu XI) chia thành ba Liên khu: Liên khu I, Liên khu II và Liên khu III hình thành nên thế trận liên hoàn. Trong đó, Liên khu I là trung tâm mặt trận, bao gồm 7 khu phố và một xã bãi giữa sông Hồng: Trúc Bạch, Đồng Xuân, Đông Thành, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Long Biên và xã Phúc Xá. Liên khu I, nằm kề đại bản doanh của Bộ Chỉ huy quân Pháp giữa lòng Hà Nội, bao gồm 3 tiểu đoàn bộ binh chính quy (D101, D102, D103). Tiểu đoàn 102 còn được gọi là Khu Đông Thành; Tiểu đoàn 101 là Khu Đồng Xuân và Tiểu đoàn 103 là Khu Đông kinh nghĩa thục.

Thực dân Pháp bội ước Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 và Thỏa ước 19/4/1946, sau khi đổ bộ trái phép lên Ðà Nẵng, Ðồ Sơn, đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và gây hấn nhiều nơi ở Hà Nội. Khẩu hiệu "Sống chết với Thủ đô" của  quân và dân Hà Nội giăng khắp các đường phố, gửi trọn ý chí quyết tâm giữ vững độc lập.  Để bảo vệ thành quả cách mạng, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tiếp có những chủ trương thích hợp đối phó với thù trong giặc ngoài, đặc biệt là quân Pháp. Tuy nhiên, âm mưu xâm lược nước ta của thực dân Pháp ngày càng lộ rõ. Nguy cơ của một cuộc chiến tranh với Pháp là khó tránh khỏi. Để chủ động đối phó với địch, Bộ Tổng chỉ huy đã xây dựng kế hoạch tác chiến quy mô cả nước; trong đó mặt trận Hà Nội được coi là chiến trường chính. Hà Nội cần giam chân địch một thời gian, càng lâu càng tốt tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh. Sáng 19/12/1946, cuộc họp nhận chỉ thị của cán bộ tự vệ Thành phố trở thành lễ tuyên thệ, thề quyết tử bảo vệ Thủ đô của đội Vệ quốc đoàn bảo vệ Thủ đô. 20h3' tối 19/12, toàn thành phố đèn điện phụt tắt, từ pháo đài Láng, đại bác của quân ta đồng loạt nã đạn vào quân giặc, mở đầu cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng. Công nhân phá Nhà máy điện Yên Phụ, tắt đèn. Các lực lượng vũ trang, tự vệ tiến công các vị trí của địch. Để chuẩn bị cho chiến đấu, trên những con phố được xác định địch sẽ hành quân, lực lượng của ta đều dựng các công sự, chiến lũy, chướng ngại vật. Hai bên đường phố, nhiều thân cây được khoan để đặt mìn, sẵn sàng cho nổ khi địch tới. Các cột điện cũng được sử dụng để bố trí các ụ súng. Những căn nhà trong phố được đục tường, nối thông các nhà với nhau. Đại tá Nguyễn Trọng Hàm kể: “Các tường nhà được đục lỗ thông nhau, để tiện cho việc liên lạc. Nhà nọ bước chân ra nhà kia, tạo ra địa đồ bát quái. Anh vào không biết tiến, anh rút ra không biết rút. Đây không phải là một cuộc chiến đấu ngoài trận địa mà là một cuộc đấu tranh du kích trong thành phố. Du kích ở đây là dùng các lực lượng nhỏ, lẻ để chiến đấu với quân địch đông và mạnh”.

 Quân ta dùng nhiều cách đánh khác nhau, ít tốn đạn nhưng có hiệu quả, thương vong không đáng kể. Ông Hàm nhớ lại:“Ngày đó, vũ khí thiếu và thô sơ lắm! Để chống trả quân Pháp, các chiến sĩ tự vệ đã sáng tạo ra nhiều loại vũ khí, trong đó có thành lập nhóm “bắn tỉa săn Tây” bằng cách tận dụng đạn moóc-chi-ê của địch bắn không nổ, khoan thân đạn để đặt kíp nổ và dây cháy chậm, dùng cách đốt tấn công các điểm chốt giữ của địch”. Để tiết kiệm đạn dược của ta và tiêu hao đạn dược của địch, các chiến sĩ ta đã dựng pháo ném, pháo đùng thay tiếng nổ lựu đạn hoặc cho các bánh pháo vào thùng sắt tây đốt giả tiếng súng liên thanh. Chiến sĩ của ta dùng các mũ sắt Nhật vận động trong giao thông hào nghi binh tiêu hao đạn dược địch, bí mật tập trung chăn màn đổ xăng tiêu hủy vị trí địch chiếm đóng, hoặc dùng vũ khí thô sơ tiêu diệt địch. Hay như việc sử dụng bom ba càng - một vũ khí hình nón, có thể phá hủy xe tăng, dù phản lực phía sau sẽ làm người đâm hy sinh, thế nhưng luôn có rất nhiều người xung phong. Khi nói về bom ba càng, ánh mắt ông vụt sáng“Chúng tôi lên họp trên trung đội và được phổ biến về cách đánh xe tăng bằng bom ba càng. Quả bom tự tạo hình nón, chiến sĩ đánh bom sẽ ôm bom lao vào xe tăng. Khi bom nổ, phản lực đẩy về phía sau và người đánh bom sẽ phải hi sinh khi mỗi tiểu đội được cấp phát một bom ba càng, ai cũng hăng hái xung phong nhận nhiệm vụ. Không ai chịu nhường ai, cuối cùng chúng tôi phải họp, chọn ra người có sức khỏe và nhanh nhẹn nhất để giao bom. Tôi là chỉ huy, lại bị thương vào chân nên không được chọn. Trước khi một người ôm bom đi đánh, anh em hồi hộp lắm, nhưng không phải sợ chết mà chỉ sợ xe tăng không cháy…”.

 

       

Cảm tử quân Hà Nội ôm bom ba càng đón đánh xe tăng của Pháp trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến tại Hà Nội, 12/1946 (Ảnh tư liệu - TTX)

 

Chia sẻ về trận Hàng Thiếc, giọng Đại tá Nguyễn Trọng Hàm trở nên sôi nổi. Sau trận đánh hòng chiếm nhà Xô va, trường Ke nhưng thất bại thảm hại, địch vẫn không từ bỏ âm mưu tiến công cắt đôi Liên khu 1 từ Đông sang Tây. Sau khi được tăng cường lực lượng, ngày 8-2-1947, từ Cửa Đông, địch chia thành 2 mũi, có xe tăng dẫn đầu. Một mũi đánh vào phố Hàng Nón; một mũi đánh vào phố Hàng Bút. Trước đó, địch cho máy bay đánh phá nhằm “dọn đường” cho bộ binh địch tiến vào khu vực này. Dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn 102, Trung đội phố Hàng Thiếc đã triệt để lợi dụng các chiến lũy, nhà cửa, cơ động linh hoạt, chiến đấu ngoan cường, bẻ gãy các đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên. 2 giờ chiều ngày 8-2, địch chiếm được mấy căn nhà dãy hàng số chẵn ở phố Hàng Thiếc. Ta chốt giữ nhà số lẻ. Quân Pháp dùng xăng đốt dãy nhà số lẻ. Buổi tối, địch rút về phía Đường Thành, Hàng Da. Liên tiếp những ngày sau, chúng lại đánh ra. Giành đi giành lại, ta vẫn giữ được bên số lẻ. Địch không phát triển vào sâu trận địa ta được, ban ngày bắn pháo cối, dùng xăng và súng phun lửa thiêu các ụ chiến đấu. Tối đến, ta lại đột nhập sang dãy số chẵn đốt phá, ném lựu đạn tiêu diệt chúng. Sau 3 ngày chiến đấu, ta diệt hơn 100 địch, bắn rơi một máy bay. Quân Pháp rút bỏ. Trận địa tuyến Hàng Thiếc được giữ vững cho đến đêm lui quân cuối cùng ngày 17-2-1947, buộc chúng phải chuyển hướng tấn công sang phía bắc Liên khu I. “Khi đó, ở cột đèn đầu phố Hàng Bồ - Hàng Thiếc có một ụ pháo trông lên phía cầu tàu hỏa ở phố Phùng Hưng, nhưng trên cầu tàu đó Pháp cũng đặt một ụ quan sát trông thẳng về phía Hàng Bồ, nhưng súng có máy ngắm. Hôm đó tôi đến kiểm tra chốt Hàng Thiếc, vừa quay sang mượn đồng đội cái ống nhòm thì quân Pháp xả nguyên một loạt đạn ngay sát vai tôi. Hóa ra ụ của mình làm không có mái che, ánh sáng vào phản chiếu nên mới bị phát hiện”, ông Hàm kể.

Sáng ngày 14/02/1947, giặc Pháp mở đợt tấn công lớn vào tiểu khu Đồng Xuân thuộc Liên khu I. Giặc Pháp tập trung hơn 400 quân và hàng chục xe cơ giới các loại bao vây tiến hành đánh chợ Đồng Xuân với ý định sau đó sẽ thọc thẳng vào trung tâm chỉ huy Liên khu I. Ngày 11, 12, 13 tháng 2 năm 1947, giặc Pháp cho máy bay ném bom bắn phá liên tiếp vào khu chợ Đồng Xuân và các phố Hàng Cót, Hàng Lược, Hàng Đường, Hàng Bạc, Mã Mây, Hàng Mắm… Mờ sáng 14/2, máy bay địch lại tiếp tục ném bom, bắn phá; pháo binh, súng cối của địch bắn liên tiếp vào chợ Đồng Xuân và các phố xung quanh. Khi xe tăng địch tiến vào trong chợ, quân ta từ các quầy hàng, lừa cho xe tăng địch đi qua, bộ binh địch vừa tới, thì xông ra đánh giáp lá cà. Trận chiến đấu ở chợ Đồng Xuân là một trong những trận đánh oanh liệt nhất của chúng ta trong 2 tháng đầu kháng chiến ở Thủ đô và cũng là trận cuối cùng của Trung đoàn Thủ đô trong nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Thủ đô, bảo vệ Liên khu I Hà Nội.

Khi chúng tôi nhắc đến cuộc lui quân thần kỳ đêm ngày 17/2/1947, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm bồi hồi: “Cuộc chiến đang ở giai đoạn quyết liệt, thì ngày 16/2/1947, Hoa kiều nhờ ta giúp đỡ họ về lương thực; đồng thời đề nghị ngừng bắn vào ngày 18/2/1947 để họ rút khỏi Hà Nội. Nhận thấy rằng đây là âm mưu, thủ đoạn của địch muốn thăm dò ta xem còn lương thực chiến đấu kéo dài không? Trước tình hình đó, mặc dù số lương thực còn ít nhưng ta vẫn giúp Hoa kiều lương thực. Cùng với đó, ta có hai vấn đề rất nghiêm trọng là số đạn cho mỗi khẩu súng trường chỉ còn vài viên và số lượng lương thực còn lại cho Trung đoàn chỉ ăn được vài ngày. Để bảo toàn lực lượng, bảo đảm phục vụ kháng chiến lâu dài, cấp trên đã ra lệnh cho Trung đoàn chúng tôi rút khỏi Hà Nội. Nhận lệnh cấp trên, anh em đều thắc mắc: Bác giao nhiệm vụ quyết tử thì phải giữ Hà Nội đến hơi thở cuối cùng, sao lại rút. Chúng tôi đã phải giải thích, Bác giao nhiệm vụ kìm chân địch chứ không phải là cố thủ, phải bảo toàn lực lượng đã được tôi rèn trong chiến đấu để trường kỳ kháng chiến, lúc đó anh em mới thông. Đêm 17/2/1947, nhờ sự yểm trợ của Đội du kích Hồng Hà, toàn Trung đoàn chúng tôi đã vượt vòng vây của địch qua sông Hồng ra khỏi trung tâm Thủ đô an toàn, không thiếu một người, không thiếu một cây súng. Cuộc rút lui đó được gọi là cuộc lui quân "thần kỳ" trong lịch sử chiến đấu chống Pháp”.

 

Cán bộ Bảo tàng Hà Nội trao đổi với Đại tá Nguyễn Trọng Hàm

 

Sáng hôm sau, ngày 18 tháng 2 năm 1947, lính Pháp phát hiện, đuổi theo, nhưng bộ đội đã vượt sông Hồng về làng Thượng Hội thuộc huyện Đan PhượngHà Tây. Riêng Đội tự vệ Hồng Hà gồm những người dân lao động ngoài bãi sông Hồng đã chiến đấu ròng rã 60 ngày đêm, bảo vệ và nối liền con đường tiếp tế cho dân quân Liên khu I đã có thương vong. Đó là đồng chí Nguyễn Ngọc Nại, Tiểu đội trưởng, và 7 đồng chí khác. Họ đã trụ vững ở bãi giữa, chiến đấu quyết liệt với lính Pháp để thu hút hỏa lực về phía mình, bảo vệ an toàn cho cuộc rút lui chiến lược của Trung đoàn Thủ đô và quân dân Hà Nội. Pháp trả thù kéo quân đánh vào xã Tứ Tổng, là xã đã dùng thuyền đưa trung đoàn vượt sông Hồng, đốt cháy gần 30 nóc nhà, giết chết 27 thanh niên và chọc thủng gần 40 con thuyền.

Sau khi Trung đoàn Thủ đô lui quân trọn vẹn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư khen ngợi: “Các chiến sỹ đã chiến đấu hai tháng ròng rã để giữ vững ngọn cờ nước Việt giữa Thủ đô Hà Nội. Các chiến sỹ đã nêu cao tinh thần oanh liệt của dân Việt và thanh danh rực rỡ của quân đội quốc gia Việt Nam. Các chiến sỹ lại mở được con đường máu qua vòng vây dày đặc quân địch để thực hiện chỉ thị bảo tồn chủ lực. Các chiến sỹ sẽ tiếp tục chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam - Chúng ta sẽ chiến đấu 10 năm hay lâu hơn nữa nếu cần. Cho đến ngày tổ quốc độc lập thống nhất. Cho đến ngày Thủ đô Hà Nội được làm Thủ đô của một nước độc lập thống nhất. Ta thề Thủ đô sẽ chiến thắng quân thù!”. 60 ngày đêm chiến đấu, quân dân Hà Nội đã đánh bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của địch, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương lân cận có thời gian huy động lực lượng đối phó âm mưu đánh chiếm của thực dân Pháp, đồng thời động viên và cổ vũ nhân dân cả nước đi vào cuộc kháng chiến lâu dài. Trong 60 ngày đêm chiến đấu, ta đã tiêu diệt 2.000 tên địch, phá hủy hàng chục xe cơ giới. Qua chiến đấu, lực lượng vũ trang Thủ đô không những được bảo toàn mà còn phát triển, từ 5 tiểu đoàn Vệ quốc quân lúc mới nổ súng, sau hơn hai tháng đã xây dựng thành 3 trung đoàn. Quân dân Hà Nội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, kìm chân địch 2 tháng (từ 19/12/1946 đến 17/2/1947) trong thành phố, gấp đôi thời gian Trung ương giao cho Thủ đô. Chiến thắng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ.

Tuổi đã cao, Đại tá Nguyễn Trọng Hàm vẫn tích cực tham gia các hoạt động của đoàn thể, xã hội. Ông hiện là Trưởng ban liên lạc truyền thống quyết tử Liên khu I anh hùng. Ông luôn tâm niệm phải cống hiến đến hơi thở cuối cùng cho đất nước với mong muốn giúp lớp trẻ hôm nay hiểu hơn về một thế hệ cha anh năm xưa "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh". Đó là điều mà ông muốn gửi gắm qua những câu chuyện của mình và cũng là điều mà chúng tôi- những người làm công tác gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa trăn trở làm thế nào để kể câu chuyện “60 ngày đêm quyết tử để Tổ Quốc quyết sinh” phục vụ công chúng tham quan đến với Bảo tàng Hà Nội.

Phòng Trưng bày – Tuyên truyền