Thời Hồng Đức năm 1487
Vua Lê Thánh Tông (1442-1497) lấy hiệu là Hồng Đức, là ông vua ở ngôi lâu nhất trong thời Lê sơ và có nhiều cống hiến lớn trong việc củng cố chế độ quân chủ tập quyền, xây dựng kỷ cương, phép tắc về mọi mặt cho quốc gia, đưa nước Đại Việt trở thành một quốc gia cường thịnh của vùng Đông Nam Á. Đặc biệt Vua Lê Thánh Tông để lại giá trị về hành chính, kinh tế, giáo dục, văn hoá, tư tưởng lớn qua các tác phẩm: Hồng Đức quốc âm thi tập, Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật), Bản đồ Hồng Đức (Hồng Đức bản đồ sách), Thiên Nam dư hạ tập,…
Hiện nay, Bảo tàng Hà Nội đang lưu giữ hơn 73.000 hiện vật, tài liệu và 6 nhóm bảo vật Quốc gia qua các thời kỳ lịch sử. Trong đó, triện đồng với số đăng ký BTHN 10305 thời Hồng Đức là hiện vật quý hiếm đại diện một phần quyền lực trong thời kỳ phong kiến của quốc gia Đại Việt. Triện được làm bằng đồng, còn nguyên vẹn bao gồm chuôi, thân và mặt. Triện cao 10cm, nặng 0,7kg (18 lạng 6,6 chỉ theo đơn vị đo lường cổ – 1 lạng bằng 37,5gr), mặt hình vuông mỗi cạnh dài 7,5cm. Triện được chế tác bằng phương pháp đúc thủ công truyền thống với chất liệu đồng cổ màu vàng đậm. Mặt khắc nổi 6 chữ Hán cổ được viết theo lối chữ Thượng phương đại triện. Đây là một kiểu chữ thư pháp Hán cổ, là loại chữ tượng hình được sử dụng trong các triều đại phong kiến Việt Nam.
Trong văn bản hành chính, bên cạnh nội dung thì thể thức trình bày cũng rất quan trọng. Trong đó, việc đóng dấu lên văn bản để xác thực thông tin và khẳng định tính tín thực của văn bản có ý nghĩa đặc biệt. Thời vua Lê Thánh Tông gồm nhiều loại hình văn bản khác nhau của nhiều cơ quan soạn thảo, ban hành. Vì vậy, hệ thống ấn triện được đóng trong các văn bản này cũng rất đa dạng và phong phú.

Ảnh: Triện niên hiệu Hồng Đức, năm 1487
Các chữ hán được khắc là:
Bên trái: “Hồng Đức thập bát niên” “洪德十八年”; Nghĩa là thời vua Lê Thánh Tông năm 1487
Bên phải: “Thượng bảo ty” “尚宝司;Nghĩa là nơi đúc ra chiếc ấn này
Thượng bảo ty là cơ quan phụ trách việc văn phòng giúp vua giữ ấn triện, sao chép sắc chỉ, dụ vua ban hoặc những chương sớ sổ sách đã được vua chuẩn y.
Một hàng chữ nữa bên phải là: “Hiệp chu tả sở chi ấn” “挾舟左所之印” Nghĩa là ấn triện của đội thuyền bên tả là cơ quan sử dụng ấn .
Như vậy đây là ấn dùng để đóng dấu cho thuyền được phép đi lại qua một khu vực giao thông đường sông nào đó vào thời bấy giờ, việc đóng ấn triện để thuyền bè được phép lưu hành thể hiện sự quản lý của nhà nước trong giao thông hoặc buôn bán giữa các khu vực với nhau.
Kinh đô Thăng Long là trung tâm buôn bán sầm uất nhất của quốc gia Đại Việt lúc bấy giờ. Do có ưu thế về vị trí địa lý nên việc đi lại và giao thương trên đất Thăng Long chủ yếu bằng đường sông, tàu thuyền đi lại trên sông tấp nập.
Ca dao có câu:
Nhĩ Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này
Trục giao thông chính trong nước là sông Nhĩ Hà (Sông Hồng), đoạn chảy qua nội thị dài gần 40 km. Bên hữu ngạn sông Nhĩ Hà có nhiều bến đò liền sát với phố phường tạo ra mạch giao thương chính nối Thăng Long với các thị trường và các địa phương khác. Hệ thống sông Kim ngưu, Tô Lịch, trong nhiều thế kỷ vẫn chảy thông với sông Nhĩ Hà và Hồ Tây tạo thành hệ thống giao thông nội thị mang hiệu quả kinh tế cho việc phát triển buôn bán trong nước. Vì vậy vua Lê Thánh Tông cho lập nhiều đội thuyền để chuyên chở hàng hóa trong đó đội Tả Sở là một đội.

Qua đó cho thấy triện đồng là hiện vật cổ quý hiếm có nhiều giá trị về lịch sử, khảo cổ, ngôn ngữ, kiến trúc, mỹ thuật… đặc biệt các văn tự Hán cổ được khắc trên mặt ấn là những tư liệu quý góp phần nghiên cứu về vương triều Lê trong lịch sử dân tộc, cần được gìn giữ, nghiên cứu và bảo vệ.
Phòng Trừng bày – Tuyên truyền




