Giữa không gian tĩnh lặng của Bảo tàng Hà Nội, một hiện vật khiến bước chân người qua phải chậm lại. Đó là khẩu súng cao xạ 14,5mm của tiểu độ nữ tự vệ Vân Đồn. Với người dân Thủ đô, đó là biểu tượng của lòng quả cảm, là khúc tráng ca về những cô gái tự vệ Vân Đồn đã dệt nên “lưới lửa tầm thấp” đánh bại siêu pháo đài bay B-52 vào mùa đông năm 1972. Những người con gái Hà Nội đó đã dùng thanh xuân để canh giữ bình yên cho tổ quốc, dệt nên sợi dây kết nối từ mùa đông cháy lửa 1972 đến mùa xuân đại thắng 1975.

Tháng 12 năm 1972, Hà Nội không có những tà áo dài thướt tha dạo phố. Thay vào đó là màu áo xanh công nhân, những chiếc mũ rơm và sự can trường của những “bông hồng thép”. Tiểu đội nữ tự vệ Vân Đồn (thuộc Xí nghiệp Phà Đen) khi ấy là tập hợp của những cô gái trẻ măng, người là thợ tiện, người là lái phà, người là kế toán. Thế nhưng, khi vận mệnh Thủ đô ngàn cân treo sợi tóc, những bàn tay mềm mại ấy đã nắm chặt tay quay pháo, vai kề vai bên mâm pháo nóng bỏng. Họ không chỉ chiến đấu vì nhiệm vụ, mà chiến đấu bằng nỗi uất hận khi chứng kiến Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai bị san phẳng.
Trong suốt 12 ngày đêm khói lửa, tiểu đội nữ tự vệ Vân Đồn được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực cảng Hà Nội và phà Đen – những huyết mạch giao thông quan trọng. Khẩu súng cao xạ 14,5mm được đặt trên một trận địa dã chiến ngay sát bờ sông Hồng. Khẩu 14,5mm loại 1 nòng này vốn có độ giật rất lớn, nhưng dưới sự hiệp đồng nhuần nhuyễn của các nữ tự vệ, những luồng đạn đỏ rực đã đan thành tấm lưới lửa bao vây lấy mục tiêu. Chính đêm đó, tiểu đội đã xuất sắc bắn rơi một máy bay F-111 của không quân Mỹ. Đây là một chiến công hiển hách, bởi F-111 lúc bấy giờ là loại máy bay tiêm kích hiện đại nhất, có khả năng bay thấp lách qua các tầng radar che chắn. Việc một tiểu đội nữ tự vệ bằng vũ khí tầm thấp bắn hạ được “cánh cụp cánh xòe” F-111 là một cú sốc lớn đối với không quân Hoa Kỳ và là niềm tự hào vô hạn của quân dân Hà Nội.
Khẩu súng cao xạ tại Bảo tàng Hà Nội hôm nay, ta thấy được sự thô sơ so với những khí tài hiện đại, nhưng lại thấy được sức mạnh khủng khiếp của tinh thần yêu nước. Điều làm nên giá trị của hiện vật này chính là ở những vết xước, những lớp sơn mòn theo thời gian. Mỗi vết hằn trên thân súng đều ghi dấu mồ hôi và cả máu của những người con gái Hà Nội. Họ đã chứng minh một chân lý: Khi lòng dân đã đồng lòng, không có vũ khí tối tân nào có thể khuất phục.

Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” mà tiểu đội nữ Vân Đồn góp phần làm nên chính là cú hích quyết định, buộc đối phương phải ký vào Hiệp định Paris, tạo tiền đề căn bản để quân và dân ta tiến tới Đại thắng mùa xuân năm 1975 thống nhất đất nước. Nếu không có những đêm thức trắng canh trời Hà Nội, nếu không có những trận địa dã chiến bên bờ sông Hồng, thì hành trình tiến về Sài Gòn của những đoàn quân giải phóng có lẽ đã gian nan hơn bội phần.

Trong thời đại hòa bình, khi những tòa nhà cao tầng mọc lên trên nền đất bom đạn năm xưa, chúng ta dễ quên rằng cái giá của bầu trời xanh hôm nay đã được đổi bằng tuổi thanh xuân của một thế hệ. Khẩu súng cao xạ của tiểu đội nữ tự vệ Vân Đồn tại Bảo tàng Hà Nội chính là một “cuốn sách sử bằng thép”. Đó không chỉ là một món vũ khí đã hoàn thành sứ mệnh, mà là một ngọn lửa truyền đời về lòng quả cảm. Hình ảnh đó nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của phụ nữ Việt Nam: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”; tinh thần đoàn kết giữa quân đội chủ lực và lực lượng tự vệ địa phương và khát vọng hòa bình của cả dân tộc Việt Nam.




