Mộ cổ Ninh Sơn được phát hiện trong quá trình làm đường tại xã Ngọc Sơn, thuộc thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ (nay là phường Chương Mỹ), Hà Nội. Năm 1976 được Ty Văn hóa và Thông tin tỉnh Hà Sơn Bình tiến hành khai quật và thu được nhiều nhóm hiện vật có giá trị.
Khu mộ cổ Ninh Sơn là một cụm gồm 06 mộ, có cấu trúc bằng gạch có niên đại từ thế kỷ I- thế kỷ VI. Trong đợt khai quật năm 1976 phát hiện được 174 hiện vật đa dạng về chất liệu trong đó có 59 hiện vật đá; 53 hiện vật gốm; 38 hiện vật đồng; 13 hiện vật sắt và 01 hiện vật thủy tinh.

Nhóm hiện vật đồng được phát hiện tại mộ cổ Ninh Sơn huyện Chương Mỹ
(nay thuộc phường Chương Mỹ), Hà Nội
Nhóm hiện vật chất liệu đồng gồm: gương, chậu, ang, cốc đốt trầm… Đặc biệt trong đó có hiện vật lẫy nỏ được phát hiện trong ngôi mộ số khảo cổ học 02 là hiện vật có sự thu hút hơn cả.

Lẫy nỏ trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội được phát hiện trong ngôi mộ cổ Ninh Sơn, huyện Chương Mỹ (nay thuộc phường Chương Mỹ), Hà Nội
Lẫy nỏ được làm hoàn toàn bằng đồng, có kích thước: chiều dài khoảng 12cm, chiều rộng thân 4cm, chiều cao 5cm. Toàn bộ thân lẫy được đúc nguyên khối từng bộ phận và có thể tháo rời lắp khớp với nhau bằng chốt. Cấu tạo lẫy nỏ gồm sáu bộ phận: hộp lẫy rỗng hình chữ nhật, một đầu vát, miệng hộp có rãnh để đặt mũi tên và khấc để giữ dây cung; lẫy cong để tiện bóp cò; hai bộ phận còn lại là hai thanh đồng dùng để đưa dây cung vào khấc hãm, hai chốt để kết nối các bộ phận. Lẫy nỏ cấu tạo với nhiều chi tiết lắp vào nhau nên còn được gọi là “liên cơ” (liên có nghĩa là liên hoàn, cơ là cơ quan, bộ phận hoặc máy). Người sử dụng phải căng dây nỏ lên, cài nó lại và cứ để thế khi bắn thì dùng ngón tay kéo lùi nút lẫy để dây bật phóng những mũi tên lao về phía trước. Qua đó thấy rằng lẫy nỏ đồng là minh chứng tiêu biểu đạt đến trình độ cao về cơ học và trình độ sáng chế kỹ thuật quân sự rất đáng kính nể thời văn hóa Đông Sơn.

Mô phỏng cấu tạo của lẫy nỏ (Ảnh: Nguyễn Ngọc Phương Đông)
Điểm nổi bật là hoa văn trang trí được khắc tinh xảo, chia thân thành nhiều dải chạy dọc đối xứng: dải trung tâm là họa tiết cuộn xoắn mềm mại, cách điệu hình đám mây hoặc lượn sóng; các dải hai bên là chuỗi hình thoi, đường kẻ song song và nét ziczac đều đặn. Đây chính là phong cách trang trí đặc trưng của văn hóa Đông Sơn, kết hợp giữa nét mềm mại của họa tiết tự nhiên và sự chặt chẽ của hoa văn hình học, phản ánh kỹ thuật đúc đồng tinh xảo và thẩm mỹ cao của người chế tác. Đặc biệt, lớp hoa văn này được mạ vàng chứng tỏ nó là đồ rất có giá trị về mặt vật chất và chủ nhân của chiếc lẫy nỏ này cũng là người có vị trí cao trong xã hội.

Họa tiết hoa văn trang trí trên lẫy nỏ
Đối với khảo cổ, lẫy nỏ mang giá trị to lớn.
Thứ nhất, nó chứng minh người Việt cổ đã làm chủ những vũ khí phức tạp là nỏ, điều này vượt trội hơn so với cung về tầm bắn, lực xuyên và độ chính xác, góp phần lý giải sức mạnh quân sự của các vương quốc cổ Âu Lạc.
Sau khi thành lập nước Âu Lạc, lập Kinh đô tại Cổ Loa, An Dương Vương cho xây đắp tòa thành hình xoáy ốc và chế tạo các loại vũ khí để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và phát triển đất nước. Tương truyền tướng quân Cao Lỗ là một tướng tài của An Dương Vương đã chế tạo ra nỏ thần (còn gọi là nỏ Liên Châu) một lần bắn được nhiều mũi tên.
Nỏ là một loại vũ khí đánh xa đặc thù của người Việt cổ. Ở Việt Nam, lẫy nỏ bằng đồng được phát hiện khá nhiều nơi như: Làng Vạc (Nghệ An), Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), Ninh Sơn (Chương Mỹ, Hà Nội) và hàng vạn mũi tên đồng được khai quật ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), niên đại khoảng 2500 – 2000 năm cách ngày nay. Khoảng thời gian này trùng với thời gian xuất hiện mũi tên đồng và Nỏ (thần).
Chuyện nỏ thần và cuộc kháng chiến chống Triệu Đà đã được ghi chép nhiều trong sử sách. Riêng chuyện Cao Lỗ chế tạo nỏ “liên châu” thì phần nhiều được phản ánh qua truyền thuyết dân gian đượm màu thần thoại. Ngày nay dưới ánh sáng của khoa học, trong đó có cả những thành tựu của Khảo cổ học, người ta đã giải mã được rất nhiều vấn đề, từng bước vén được bức màn huyền thoại về nỏ thần năm xưa.
Lẫy nỏ là bộ phận quan trọng nhất của nỏ “liên châu”; bởi thế nó đã được thần thoại hóa. Trong truyền thuyết, lẫy nỏ làm bằng móng rùa thần được nhà sử học Ngô Thì Sĩ viết trong sách Việt sử tiêu án (thế kỷ 18) như: Nửa tháng thì xây xong thành, Kim Quy cáo từ đi. Vua cảm tạ và xin cho được cách gì để chống ngoại xâm, Kim Quy trút cái móng trao cho nhà vua và nói: Nước an hay nguy sẵn có thiên số, ngươi cũng phải phòng bị, nếu có địch đến thì hãy lấy cái móng này làm cái lẫy nỏ, hướng về địch mà bắn, thì không sợ gì cả. Vua sai bày tôi là Cao Lỗ chế ra cái nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy nỏ, gọi là “Linh quang kim trảo thần nỗ”. Sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng: “Cứ đem nỏ ra chĩa vào quân giặc là chúng không dám đến gần”. Nhưng theo các nhà nghiên cứu thì có thể rùa là con vật linh thiêng được cư dân Việt cổ tôn thờ nên đã gắn sức mạnh của vị thần cho loại vũ khí lợi hại của mình nhằm làm tăng thêm sự thần kỳ. Trên thực tế, lẫy thường làm bằng các chất liệu có độ cứng như: đồng, sừng hoặc gỗ … Việc chế tác lẫy nỏ bằng đồng thay cho chất liệu gỗ cho thấy đây là vật dụng quý, thuộc về người có địa vị cao, có thể là tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh địa phương.
Thứ hai, hoa văn trên lẫy nỏ giúp các nhà nghiên cứu xác định niên đại và sự giao thoa văn hóa: nét cuộn xoắn mang đậm phong cách Đông Sơn kết hợp dấu ấn ảnh hưởng nhẹ từ phong cách Hán, phản ánh giai đoạn chuyển tiếp giữa văn hóa bản địa và tiếp xúc với văn hóa phương Bắc.
Thứ ba, ý nghĩa chôn theo trong mộ cho thấy lẫy nỏ không chỉ là vũ khí thực dụng mà còn là vật tín ngưỡng, biểu tượng cho sự bảo vệ, sức mạnh đồng hành với chủ nhân ở thế giới bên kia, thể hiện tư tưởng về sự trường tồn của linh hồn mong muốn được tiếp tục sống, chiến đấu và được bảo vệ mãi mãi hoặc đó cũng có thể là một hình thức chia của cho người đã mất của người xưa.
So với lẫy nỏ được phát hiện tại khu vực Cổ Loa hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia thì lẫy nỏ mà Bảo tàng Hà Nội đang lưu giữ tương đồng về kích thước, kiểu dáng và cấu tạo. Điều đó có nghĩa là chiếc lẫy nỏ đang lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội mặc dù được phát hiện trong ngôi mộ gạch thời Hán có niên đại thế kỷ I – thế kỷ VI nhưng không có nghĩa niên đại chiếc lẫy nỏ này cùng thời với ngôi mộ, rất có thể nó đã có từ trước đó. Qua khai quật khảo cổ học về cơ bản lẫy nỏ đồng được phát hiện ở nhiều nơi thuộc các nền văn hóa và có niên đại khác nhau nhưng mục đích sử dụng và hình thức cấu tạo thì không hề thay đổi.

Lẫy nỏ trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Quốc gia Việt Nam có niên đại
khoảng 2500-2000 năm
Các lẫy nỏ đồng được lưu giữ tại bảo tàng là những minh chứng giúp hậu thế hiểu rõ hơn về sự phát triển văn hóa vật chất, kỹ thuật và đời sống tinh thần của người Việt cách đây hơn hai nghìn năm. Đặc biệt trong quân sự, lẫy nỏ là phát minh quan trọng của cha ông ta và ngày nay chúng ta có nhiệm vụ nghiên cứu để giải mã những bí ẩn của câu truyện truyền thuyết dần hé mở.
Phạm Hải Âu





